Thứ 5 Ngày 14/5/2020, 10:13:21 AM

 

Tình huống số 1

Gia đình ông A và gia đình ông C có đất giáp ranh liền kề. Để bảo vệ tài sản trong nhà và trồng rau, cây cảnh không bị gà, chó của hàng xóm sang phá rau, cây cảnh, ông A đã xây tường rào xung quanh. Khi xây tường rào ông A đào móng sâu 0.5m đất và sát ranh giới đất với nhà ông C. Ông C không cho đào móng và xây tường rào sát đất nhà ông, vì cho rằng việc đào móng và xây tường rào sẽ ảnh hưởng đến công trình xây dựng của gia đình mình (gồm nhà ở, nhà bếp và các công trình phụ trợ liền lề nhà ông A), và đề nghị ông A nếu đào móng và xây tường rào thì phải cách xa ranh giới đất 1m và giảm độ sâu của móng tường rào. Ông A không đồng ý, cho rằng việc đào móng và xây dựng tường rào là trên phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông (đất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) và ông có quyền làm theo mục đích của mình. Hai bên gia đình mâu thuẫn và nhiều lần tranh cãi to tiếng, gây mất trật tự. Nếu được giao hòa giải vụ việc này, ông/bà sẽ hòa giải như thế nào ?

1. Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp:

Do ông A khi đào móng và xây tường rào sát ranh giới đất với nhà ông C, ông C không cho đào và yêu cầu ông A phải dịch chuyển móng và xây tường rào xa hơn ranh giới đất 1m và giảm độ sâu của móng tường rào. Ông A không đồng ý, cho rằng việc đào móng và xây dựng tường rào là trên phần đất thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông và ông có quyền làm theo mục đích của mình.

2. Nghiên cứu và lựa chọn căn cứ pháp lý quy định có liên quan đến mâu thuẫn, tranh chấp:

- Khoản 2 Điều 6 Luật đất đai năm 2013 quy định việc sử dụng đất: “Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh”.

- Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng: Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh.”

- Khoản 1 Điều 176 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về mốc giới ngăn cách các bất động sản: Chủ sở hữu bất động sản chỉ được dựng cột mốc, hàng rào, trồng cây, xây tường ngăn trên phần đất thuộc quyền sử dụng của mình”.

3. Phong tục, tập quán, ca dao, tục ngữ tốt đẹp của nhân dân ta:

- Bán anh em xa, mua láng giềng gần;

- Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau.

4. Hướng xử lý vụ việc:

Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành hòa giải trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 tại Điều 174 quy định nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng; khoản 1 Điều 176 quy định về mốc giới ngăn cách các bất động sản; khoản 2 Điều 6 Luật đất đai về nguyên tắc sử dụng đất; các phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta về tình làng, nghĩa xóm. Do đó, cần phân tích để các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên trong để các bên thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó.

Hòa giải viên cần thuyết phục hai bên không nên cãi vã to tiếng và không để xảy ra xung đột, các bên có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung. Thuyết phục để ông A khi xây tường rào phải theo pháp luật về đất đai bảo đảm an toàn, không ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác. Đồng thời, thuyết phục ông A thỏa thuận việc đào móng xây tường để đảm bảo an toàn hai gia đình. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tình huống số 2

Do không có tiền để tiêu vặt, anh B đã tự ý bán chiếc xe máy điện của vợ mình cho ông C là chủ cửa hàng mua bán xe máy cũ với giá 3 triệu đồng. Khi bán xe cho ông C, anh B đã nói rằng hai vợ chồng đã thỏa thuận và thống nhất bán xe do không có nhu cầu sử dụng xe cũ và để thêm tiền mua xe máy mới, việc mua bán có giấy viết tay và hai bên cùng ký vào giấy mua bán xe viết tay này. Tin tưởng  anh B, ông C đã mua và sau đó bán lại cho một khách hàng khác với giá 5 triệu đồng.

Khi biết việc chồng mình tự ý bán xe của mình, vợ anh B đã tìm đến ông C và đề nghị được lấy lại chiếc xe vì đó là chiếc xe thuộc sở hữu của chị, do chị dành dụm, tiết kiệm để mua phục vụ cho chị trong việc buôn bán hàng ngày, việc anh B bán xe không bàn bạc, thỏa thuận và chưa được sự nhất trí của mình. Ông C nói xe ông đã bán cho khách hàng khác, nếu muốn lấy lại thì đến khách hàng đó mà chuộc lại. Chị vợ anh B đã liên hệ với khách hàng mua xe theo địa chỉ và số điện thoại do ông C cung cấp và đề nghị nhận lại xe, trả đủ tiền nhưng không đồng ý vì anh mua xe của ông C chứ không mua xe của chị, việc mua bán xe giữa ông C với chồng chị B có giấy tờ bán xe và chiếc xe máy điện này cũng không có đăng ký. Chị vợ anh B đã liên hệ với Tổ hòa giải đề nghị giúp đỡ. Là Hòa giải viên được phân công tham gia hòa giải vụ việc, ông/bà cần hòa giải thế nào?

1. Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp:

Anh B bán chiếc xe thuộc sở hữu của chị vợ cho ông C mà không bàn bạc và được sự đồng ý của chị vợ anh B. Ông C bán lại cho khách hàng khác và chị vợ anh B đã liên hệ với khách hàng đề nghị nhận lại xe và trả tiền nhưng không đồng ý vì chiếc xe đã mua của ông C chứ không mua của anh B.

2. Nghiên cứu và lựa chọn căn cứ pháp lý quy định có liên quan đến mâu thuẫn tranh chấp:

- Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu:

“1. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167, Bộ luật dân sự 2015 cụ thể: “Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu”.

2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.

3. Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều này nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại”.

3. Hướng xử lý vụ việc:

Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành hòa giải trên cơ sở quy định Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015 về bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu để phân tích các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên trong vụ việc để các bên thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó.

Theo đó, hòa giải viên làm rõ nguyên nhân và thuyết phục hai bên không để xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn. Đề nghị người khách hàng cho chị vợ anh B chuộc lại xe vì xe thuộc sở hữu của chị và việc anh C mua xe của chồng chị là ngay tình (xe máy điện là loại xe không có đăng ký) và sau đó bán lại cho khách hàng mua xe là nằm ngoài ý muốn. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tình huống số 3

Gia đình ông Q và bà E là hai hộ liền kề, ranh giới giữa hai nhà là hàng rào trồng bằng cây tre đã trên 10 năm tuổi (hàng rào bằng cây tre này là của chung của cả hai gia đình). Do hàng rào là cây tre dẫn đến lá tre thường xuyên rụng xuống gây mất vệ sinh và chiếm nhiều diện tích trong khuôn viên của gia đình. Ông Q đã quyết định chặt hết cây tre và thay bằng là xây tường rào để ngăn danh giới giữa hai gia đình, nhưng bà E không đồng ý. Theo bà E, ông Q muốn xây tường thì cứ xây trên phần đất nhà mình, nếu chặt phá hàng rào bằng cây tre sẽ lấn sang phần đất nhà bà và hàng rào bằng cây tre hàng năm bà còn lấy măng để ngâm ớt. Ông Q cho rằng hàng rào bằng cây tre là ranh giới chung giữa 2 gia đình, việc xây tường rào là vì lợi ích chung nên ông vẫn xây tường, kể cả bà E không đồng ý. Ngày ông Q khởi công xây dựng tường rào, bà E đã ngăn cản, không cho xây dẫn đến cãi vã to tiếng. Nếu được giao hòa giải vụ việc, ông/bà sẽ hòa giải như thế nào?

1. Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp:

Mâu thuẫn giữa ông Q và bà E là tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề của hai nhà là hàng rào bằng cây tre được trồng trên 10 năm tuổi.

2. Nghiên cứu và lựa chọn căn cứ pháp lý quy định có liên quan đến mâu thuẫn tranh chấp:

- Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định ranh giới giữa các bất động sản như sau:

“1. Ranh giới giữa các bất động sản liền kề được xác định theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Ranh giới cũng có thể được xác định theo tập quán hoặc theo ranh giới đã tồn tại từ 30 năm trở lên mà không có tranh chấp.

Không được lấn, chiếm, thay đổi mốc giới ngăn cách, kể cả trường hợp ranh giới là kênh, mương, hào, rãnh, bờ ruộng. Mọi chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung.

2. Người sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới của thửa đất phù hợp với quy định của pháp luật và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của người khác.

Người sử dụng đất chỉ được trồng cây và làm các việc khác trong khuôn viên đất thuộc quyền sử dụng của mình và theo ranh giới đã được xác định; nếu rễ cây, cành cây vượt quá ranh giới thì phải xén rễ, cắt, tỉa cành phần vượt quá, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

- Khoản 2 Điều 6 Luật đất đai năm 2013 quy định việc sử dụng đất: “Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh”.

3. Phong tục, tập quán, ca dao, tục ngữ tốt đẹp của nhân dân ta:

- Bán anh em xa, mua láng giềng gần;

- Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau.

4. Hướng xử lý vụ việc:

Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành hòa giải trên cơ sở quy định Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định ranh giới giữa các bất động sản và truyền thống tốt đẹp về tình làng nghĩa xóm. Hòa giải viên cần phân tích để các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên để các bên thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó. Theo đó, thuyết phục hai bên không nên cãi vã to tiếng và không để xảy ra xung đột, các bên có nghĩa vụ tôn trọng, duy trì ranh giới chung. Cần thuyết phục để bà E hiểu rõ ý nghĩa của bức tường rào. Xây tường rào kiên cố vừa sạch, vừa đẹp, vừa đảm bảo an toàn cho cả hai gia đình; là sở hữu chung của hai gia đình, việc xây tường rào là vì lợi ích chung. Trong trường hợp bà E không đồng ý, ông Q vẫn có thể xây tường trên phần đất nhà mình nhưng không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của bà E theo quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật đất đai. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tình huống số 4

Do cần tiền để mua quần áo và nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của cá nhân, cháu A, sinh ngày 15/3/2005 đã bán chiếc xe đạp mà bố mẹ mua cho để đi học với giá 500.000 đồng cho ông B là chủ cửa hàng mua bán xe đạp cũ (việc mua bán không có giấy tờ, chỉ bằng lời nói). Sau khi phát hiện con mình là cháu A bán xe đạp cho ông B, bố mẹ cháu A đã tìm gặp ông B đề nghị chuộc lại chiếc xe đạp và hoàn trả ông B số tiền là 500.000 đồng vì hiện nay chiếc xe đạp vẫn đang để ở trong kho hàng của ông B (ông B chưa bán lại cho ai), nhưng ông B không đồng ý vì cho rằng việc mua bán giữa ông và cháu A đã xong, ông đã trả tiền. Hai bên lời qua tiếng lại, bố mẹ cháu A đã tìm đến Tổ hòa giải đề nghị giúp đỡ. Việc xử lý vụ việc này như thế nào với vai trò là hòa giải viên.

1. Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp:

Mâu thuẫn giữa bố cháu A và ông B là do cháu A đã bán chiếc xe đạp thuộc quyền sở hữu của gia đình cháu A với giá 500.000 đồng cho ông B.

2. Nghiên cứu và lựa chọn căn cứ pháp lý quy định có liên quan đến mâu thuẫn tranh chấp:

- Khoản 3 Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi”.

- Khoản 1 Điều 125 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện: “Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý”.

3. Hướng xử lý vụ việc:

Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành hòa giải trên cơ sở quy định khoản 3 Điều 21 và Điều 125 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về người chưa thành niên và về giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên xác lập, thực hiện để phân tích các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên trong vụ việc và các bên thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó.

Thuyết phục bố mẹ cháu A và ông B hòa giải không để xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột. Ông B nhận lại số tiền 500.000 đồng và trả lại chiếc xe đạp thuộc sở hữu của bố mẹ cháu A vì cháu A là người chưa thành niên, việc mua bán giữa cháu A và ông B là chưa hợp pháp do chưa có sự đồng ý của bố mẹ cháu A. Trong trường hợp các bên không thỏa thuận được, hòa giải viên hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tình huống số 5

Thửa ruộng của hai nhà bà A và bà B ở cạnh nhau thuộc xã X (giữa bà A và bà B là hàng xóm láng giềng). Do ruộng nhà bà A nằm cao hơn ruộng nhà bà B, nên mỗi lần có nước về để phục vụ tưới tiêu cho cả cánh đồng của xã X, bà A phải be đắp bờ cho nước không chảy xuống ruộng nhà bà B để không làm mất màu của đất. Mỗi lần be bờ, đắp đất, ruộng nhà bà B nhận được một lượng nước rất ít, không bảo đảm canh tác. Bà B đã nhắc nhở, đề nghị bà A không be bờ, đắp đất để ruộng bà còn lấy nước nhưng bà A không nghe. Mỗi lần nước thủy lợi về là một lần hai bên xích mích, cãi vã nhau. Bà B đã liên hệ với Tổ hòa giải đề nghị giúp đỡ bà. Được giao tiến hành hòa giải vụ việc này, ông/bà sẽ hòa giải như thế nào?

1. Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp:

Mâu thuẫn giữa bà A và bà B là do bà A be đắp bờ cho nước không chảy xuống ruộng nhà bà B, ruộng nhà bà B được một lượng nước rất ít, không đảm bảo canh tác.

2. Nghiên cứu và lựa chọn căn cứ pháp lý quy định có liên quan đến mâu thuẫn tranh chấp:

Điều 253 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác: Người có quyền sử dụng đất canh tác khi có nhu cầu về tưới nước, tiêu nước, có quyền yêu cầu những người sử dụng đất xung quanh để cho mình một lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho việc tưới, tiêu; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó; nếu người sử dụng lối dẫn nước gây thiệt hại cho người sử dụng đất xung quanh thì phải bồi thường”.

3. Phong tục, tập quán, ca dao, tục ngữ tốt đẹp của nhân dân ta:

- Bán anh em xa, mua láng riềng gần;

- Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau;

- Ở nhà có láng giềng nhà, ở đồng có láng giềng đồng.

4. Hướng xử lý vụ việc:

Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành hòa giải trên cơ sở quy định Điều 253 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác để phân tích các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên trong vụ việc; các bên thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó.

Theo đó, cần nêu truyền thống tốt đẹp về tình làng nghĩa xóm và thuyết phục hai bên không để xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn. Đề nghị bà A để cho bà B một lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho việc tưới ruộng. Đề nghị Bà B khi sử dụng lối dẫn nước phải đảm bảo không làm ảnh hưởng đến ruộng nhà bà A, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tình huống số 6

Hộ gia đình bà A và bà B ở cạnh nhau (nhà bà A ở bên trong, nhà bà B ở ngoài). Hai hộ gia đình sử dụng lối đi chung và đây cũng là lối đi duy nhất vào nhà bà A. Do nhu cầu về nhà ở, hộ gia đình bà B dự kiến sẽ xây thêm nhà để ở ngay vị trí lối đi chung mà hai hộ gia đình đang sử dụng. Biết được tình hình, bà A đã đề nghị gia đình bà B không xây nhà vào vị trí lối đi chung, nếu xây vào vị trí này hộ gia đình bà A sẽ không có lối đi, nhưng gia đình bà B không nghe dẫn đến mâu thuẫn, to tiếng giữa hai gia đình. Được giao hòa giải vụ việc trên, ông/bà sẽ hòa giải như thế nào?

1. Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp:

Mâu thuẫn giữa hộ gia đình bà A và hộ gia đình bà B là do mâu thuẫn về lối đi chung của hai gia đình.

2. Nghiên cứu và lựa chọn căn cứ pháp lý quy định có liên quan đến mâu thuẫn tranh chấp:

Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền về lối đi qua:

“1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù”.

3. Phong tục, tập quán, ca dao, tục ngữ tốt đẹp của nhân dân ta:

- Bán anh em xa, mua láng riềng gần;

- Hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau.

4. Hướng xử lý vụ việc:

Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành hòa giải trên cơ sở quy định Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền về lối đi qua để phân tích các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm của mỗi bên trong vụ việc và tự thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó.

Theo đó, hòa giải viên cần nêu truyền thống tốt đẹp về tình làng nghĩa xóm và thuyết phục hai bên không để xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn. Thuyết phục hộ gia đình bà A và bà B không nên gây ồn ào, ngăn cản lối đi chung và không làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh của thôn xóm. Đồng thời, đề nghị gia đình bà B không nên xây nhà ngay lối đi chung, việc xây dựng dẫn đến gia đình bà A không có lối đi để đến được nhà hoặc nếu xây dựng nhà trên vị trí lối đi chung thì phải dành lối đi khác cho gia đình bà A. Trường hợp phần đất để dành lối cho gia đình bà A mà thuộc quyền quản lý, sử dụng của gia đình bà B thì hai gia đình tự thỏa thuận đền bù bằng tiền hoặc bằng hình thức khác cho nhau để gia đình bà B có lối đi. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tình huống số 7

Ông bà A sinh được 3 người con (1 trai, 2 gái). Cả ba người đều đã xây dựng gia đình và ra ở riêng. Khi mất, ông bà A có để lại di chúc chia đều toàn bộ di sản gồm ngôi nhà và diện tích đất đang ở cho 3 người con. Sau khi bố và mẹ mất, do ở xa và muốn có chỗ để thờ tự và cũng là nơi để anh chị em gặp nhau vào những ngày giỗ bố mẹ, tết, người con thứ hai và ba đã thoả thuận giao toàn bộ phần di sản thuộc quyền thừa kế của mình cho người anh cả quản lý và thờ cúng bố mẹ. Do làm ăn thua lỗ, người anh cả muốn bán toàn bộ nhà đất do bố mẹ để lại nhưng 2 người em không đồng ý, nếu bán thì sẽ đòi lại phần di sản của họ đã giao cho người anh cả quản lý. Bất hòa trong gia đình ngày càng lớn, hai người em đã tìm đến tổ hoà giải đề nghị giúp đỡ. Nếu được giao hòa giải vụ việc này, ông/bà sẽ xử lý như thế nào?

1. Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp:

Khi mất, ông bà A có để lại di chúc chung, chia đều toàn bộ di sản cho 3 người con. Sau khi bố và mẹ mất, do ở xa và muốn có chỗ để thờ tự và cũng là nơi để cả ba anh, chị em gặp nhau vào những ngày giỗ, tết, người con thứ 2 và thứ ba đã thoả thuận giao toàn bộ phần di sản thuộc quyền thừa kế của mình cho người anh cả quản lý. Do làm ăn thua lỗ, người anh cả muốn bán toàn bộ nhà đất đó nhưng hai người em không đồng ý, nếu bán thì cả hai người sẽ đòi lại phần tài sản thừa kế của họ đã giao cho người anh quản lý, thờ cúng.

2. Nghiên cứu và lựa chọn căn cứ pháp lý quy định có liên quan đến mâu thuẫn tranh chấp:

- Điều 616 Bộ luật dân sự 2015 về người quản lý di sản quy định: Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra”;

- Điểm b Điều 617 nghĩa vụ của người quản lý di sản quy định: “Bảo quản di sản; không được bán, trao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc định đoạt tài sản bằng hình thức khác, nếu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản”.

3. Phong tục, tập quán, ca dao, tục ngữ tốt đẹp của nhân dân ta:

- Anh em hiếu thảo thuận hiền/Chớ vị đồng tiền mà mất lòng nhau.

- Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/Một lòng thờ mẹ kính cha/Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

4. Hướng xử lý vụ việc:

Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành hòa giải trên cơ sở quy định Bộ luật Dân sự năm 2015 về người quản lý di sản nêu trên, sẽ phân tích để người anh cả hiểu khi được giao quản lý di sản không được bán. Theo đó, thuyết phục người anh cả vì tình cảm gia đình, chị em, khi 2 người em đã tin tưởng giao toàn bộ phần di sản thuộc quyền thừa kế của mình cho anh cả quản lý thì anh cả phải quản lý di sản cho tốt. Trường hợp anh cả muốn bán có thể thỏa thuận với các em cho mình bán đất được hưởng thừa kế của mình theo di chúc. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hòa giải viên hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tình huống số 8

Vợ chồng ông A và chị B có một người con gái là C. Ông A còn có một người con riêng là anh E. Anh E đã được ông A hoàn tất các thủ tục nhận cha, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Sau khi ông A chết (không để lại di chúc), anh E đều nghị được chia thừa kế đối với phần di sản của ông A để lại (bao gồm nhà và đất mà trước đây ông A và chị B cùng chung sức tạo dựng). Chị B và con chị B là cháu C không đồng ý, vì cho rằng, ông A không có tài sản nào để lại cả, tất cả nhà, đất và tài sản đều thuộc quyền sở hữu của mẹ con chị B và cháu C; anh E là con riêng của ông A nên không có quyền hưởng thừa kế. Anh E đã tìm đến Tổ Hòa giải đề nghị giúp đỡ. Nếu được giao hòa giải vụ việc này, ông (bà) sẽ hòa giải như thế nào?

1. Xác định nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn, tranh chấp:

Ông A chết (không để lại di chúc), anh E (con riêng của ông) yêu cầu được chia thừa kế đối với phần di sản của ông A để lại nhưng vợ và con ông A (Bà B và cháu C) không đồng ý.

2. Nghiên cứu và lựa chọn căn cứ pháp lý quy định có liên quan đến mâu thuẫn tranh chấp:

Điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết…  Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”.

3. Phong tục, tập quán, ca dao, tục ngữ tốt đẹp của nhân dân ta:

-  Anh em như thể chân tay/Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần;

-  Anh em thuận hòa là nhà có phúc;

-. Anh em trong nhà đóng cửa bảo nhau;

-  Một giọt máu đào hơn ao nước lã.

4. Hướng xử lý vụ việc:

Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành hòa giải trên cơ sở quy định Bộ luật Dân sự năm 2015, phân tích để bà B và cháu C hiểu dù không muốn nhưng anh E vẫn là con ruột hợp pháp của ông A (đã có văn bản nhận cha con của cơ quan nhà nước có thẩm quyền), vì vậy anh E vẫn được hưởng phần di sản của ông A để lại. Khi ông A chết, tài sản của ông và bà A được chi làm 2 phần, phần di sản của ông để lại sẽ được chia đều cho 3 người (Bà B, anh C, anh E). Theo đó, thuyết phục anh E nên thỏa thuận với bà B và anh C về di sản do ông A để lại theo hướng các bên cùng có lợi. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, hướng dẫn các bên đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật./.


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



Tin liên quan

     Bình luận


    Mã xác thực không đúng.
       Liên kết website
      Thống kê truy cập
      Thống kê: 323.699
      Online: 9