Thứ 5 Ngày 14/5/2020, 10:13:21 AM

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật số 67/2020/QH14) được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 13/11/2020, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2022.

Sau gần 6 tháng thi hành có thể nói rằng, cùng với Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính và hệ thống các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước đã bảo đảm thể chế kịp thời, đầy đủ đường lối, chủ trương của Đảng, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành luật trên thực tiễn cũng phát sinh một số khó khăn bước đầu, cụ thể như sau:

Trong thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính

Thứ nhất, tại khoản 29 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính) quy định: “Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải được giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm 01 bản; trường hợp vi phạm hành chính không thuộc thẩm quyền của người lập biên bản thì biên bản và các tài liệu khác phải được chuyển cho người có thẩm quyền xử phạt trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản, trừ trường hợp biên bản vi phạm hành chính được lập trên tàu bay, tàu biển, tàu hỏa”.

Thời hạn chuyển biên bản vi phạm hành chính và các tài liệu khác cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm như quy định trên là quá ngắn, khó khăn trong tổ chức thực hiện, đặc biệt là đối với những địa phương điều kiện địa hình đi lại khó khăn; hành vi vi phạm phát hiện vào các ngày nghỉ cuối tuần, ngày nghỉ lễ và ở những khu vực xa trung tâm, đi lại khó khăn, một số nơi chưa đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng, kỹ thật, thông tin.

Thứ hai, tại khoản 65 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 126 Luật xử lý vi phạm hành chính) quy định: “Trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo 02 lần trên phương tiện thông tin đại chúng của trung ương hoặc địa phương nơi tạm giữ tang vật, phương tiện. Lần thông báo thứ nhất phải được thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện. Lần thông báo thứ hai được thực hiện trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày thông báo thứ nhất. Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày thông báo lần thứ hai nếu người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp không đến nhận thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính”.

Quy định trên rất khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện. Cụ thể, tang vật các vụ vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp là gỗ ở trên rừng thường ở những nơi có địa hình đi lại khó khăn, kinh phí vận chuyển tang vật vi phạm phải chi trả nhiều. Bên cạnh đó các đơn vị kiểm lâm trên địa bàn không có nhà kho để bảo quản tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Vì vậy thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện trong trường hợp không xác định được người vi phạm, chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp của tang vật, phương tiện sau 01 năm người có thẩm quyền mới tịch thu sẽ gây khó khăn trong quá trình tạm giữ, bảo quản, làm giảm về chất lượng, giá trị tang vật, phương tiện từ đó dẫn đến thất thoát, lãng phí tài sản nhà nước.

Trong thi hành Nghị định số 118/2021/NĐ-CP ngày 23/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính

Khi cá nhân có hành vi vi phạm hành chính, sẽ bị xử phạt theo Mẫu số Quyết định số 02 (MQĐ02) Quyết định xử phạt vi phạm hành chính (sử dụng cho cả trường hợp một hoặc nhiều cá nhân/tổ chức thực hiện một hoặc nhiều hành vi vi phạm hành chính) của Nghị định số 118/2021/NĐ-CP.

Tuy nhiên, đối với trường hợp cá nhân bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc tiêu hủy tang vật vi phạm hành chính. Ngay khi áp dụng mẫu Quyết định số 02 nói trên, biện pháp khắc phục hậu quả này sẽ phải ghi rõ cụ thể tại quyết định này. Theo mẫu Quyết định số 16 (MQĐ16): Quyết định buộc tiêu hủy tang vật, phương tiện hành chính, thì khi cá nhân thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 33 Luật Xử lý vi phạm hành chính, thì người có thẩm quyền xử phạt ban hành Quyết định buộc tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm hành chính theo mẫu Quyết định số 16 (MQĐ16), mà căn cứ ban hành lại là Biên bản vi phạm hành chính, biên bản xác minh.

Với những khó khăn này cần phải có hướng dẫn cụ thể để đảm bảo việc tổ chức thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính toàn diện/.

 


Đánh giá:

lượt đánh giá: , trung bình:



Tin liên quan

     Bình luận


    Mã xác thực không đúng.
       Liên kết website
      Thống kê truy cập
      Thống kê: 259.642
      Online: 44